Cắt giảm 1/2 thời gian: Làm sổ đỏ chỉ mất 15 ngày

– Ngoài việc cắt giảm từ 1/3 đến 1/2 thời gian cấp sổ đỏ, quyết định mới của Bộ Tài nguyên và Môi trường còn điều chỉnh thời gian thực hiện một số thủ tục hành chính về đất đai khác.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) vừa ký Quyết định số 5167/QĐ-BTNMT về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực đất đai thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ TN&MT.

Theo quyết định này, lĩnh vực đất đai có 48 thủ tục đối với địa phương đã thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai; 70 thủ tục đối với nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai. Trong đó, so với bộ thủ tục hành chính cũ, thời gian thực hiện một số thủ tục hành chính về đất đai mới đã được cắt giảm từ 1/3 đến 1/2 thời gian. Cụ thể như sau:

– Thủ tục Đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng của tổ chức đầu tư xây dựng là không quá 15 ngày giảm 15 ngày (quy định trước đây là không quá 30 ngày).

– Thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi thay đổi tài sản gắn liền với đất là không quá 15 ngày giảm 05 ngày so với quy định trước đây.

– Thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; xử lý hợp đồng thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; kê biên bán đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để thi hành án; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập tổ chức, chuyển đổi công ty; thỏa thuận hợp nhất hoặc phân chia quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, của vợ và chồng, nhóm người sử dụng đất là không quá 10 ngày, giảm 05 ngày.

– Thủ tục tách thửa, hợp thửa đất; thủ tục đăng ký đất đai đối với trường hợp được Nhà nước giao đất để quản lý là không quá 15 ngày giảm 05 ngày.

– Thủ tục gia hạn sử dụng đất là không quá 07 ngày, giảm 08 ngày.

– Thủ tục xác nhận tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân khi hết hạn sử dụng đất là không quá 05 ngày giảm 05 ngày.

– Thủ tục đăng ký biến động do đổi tên người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích, số hiệu, địa chỉ thửa đất hoặc thay đổi hạn chế quyền sử dụng đất hoặc thay đổi về nghĩa vụ tài chính hoặc thay đổi về tài sản gắn liền với đất so với nội dung đã đăng ký là không quá 10 ngày giảm 05 ngày.

– Thủ tục xóa đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là không quá 03 ngày, giảm 02 ngày.

– Chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng là không quá 05 ngày giảm 05 ngày.

– Cấp đổi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng là không quá 07 ngày giảm 03 ngày.

– Cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng bị mất là không quá 10 ngày giảm 20 ngày.

Đồng thời, để rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Bộ TN&MT cũng quy định rõ thời hạn Văn phòng đăng ký đất đai gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế là không quá 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; thời hạn cơ quan thuế thông báo nghĩa vụ tài chính cho người sử dụng đất không quá 5 ngày kể từ ngày nhận được thông tin địa chính do Văn phòng đăng ký đất đai chuyển đến.

Hạnh Nguyên (http://vietnamnet.vn)

Từ 1/1/2018: Đất ở tối thiểu 36 m2 được tách thửa

Ngày 5-12, UBND TP.HCM đã ban hành Quyết định 60/2017 thay thế Quyết định 33/2014 quy định về diện tích tối thiểu được tách thửa trên địa bàn TP.

Sau hơn một năm sửa đổi và trải qua rất nhiều lần dự thảo, ngày 5-12, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Trần Vĩnh Tuyến đã ký Quyết định 60 thay thế cho Quyết định 33/2014 quy định về diện tích tối thiểu được tách thửa trên địa bàn TP.

So với quy định cũ, quyết định này có nhiều nội dung mới tạo thuận lợi hơn cho người dân trong việc tạo lập nhà ở.

Quyết định 60 quy định tách thửa cho cả đất ở và đất nông nghiệp (thay vì trước đó Quyết định 33 chỉ quy định về tách thửa đất ở). Theo đó, đối với đất ở để được tách thửa thì phải thuộc quy hoạch là đất dân cư hiện hữu hoặc dân cư hiện hữu chỉnh trang. Nếu đất ở thuộc đất quy hoạch là đất xây dựng mới hoặc đất hỗn hợp (trong đó có chức năng ở) và có trong kế hoạch sử dụng đất hằng năm của quận, huyện để thu hồi thực hiện dự án thì không được tách thửa.

Tuy nhiên, Quyết định 60 cũng nêu sau ba năm kể từ ngày rà soát, phê duyệt các quy hoạch này mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện hoặc có trong kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện và chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất (mà cơ quan có thẩm quyền không điều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chỉnh, hủy bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ) thì được tách thửa bình thường.

Trường hợp khi tách thửa đất ở có hình thành đường giao thông và hạ tầng kỹ thuật thì quận, huyện có trách nhiệm hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện hạ tầng kỹ thuật đảm bảo phù hợp theo quy định. Để siết chặt việc này, TP chỉ đạo khi xem xét cho tách thửa thì chủ tịch UBND các quận, huyện phải thành lập tổ công tác liên ngành để giải quyết. Đồng thời xây dựng quy chế giải quyết tách thửa đất để tổ chức thực hiện.

Với đất nông nghiệp thuộc khu vực để sản xuất nông nghiệp thì được phép tách thửa. Thửa đất mới hình thành và thửa đất còn lại phải đảm bảo diện tích tối thiểu là 500 m2 đối với đất trồng cây hằng năm, đất nông nghiệp khác và 1.000 m2 đối với đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối.

Trường hợp thửa đất thuộc khu vực không phù hợp quy hoạch để sản xuất nông nghiệp và thuộc khu vực phải thu hồi theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và công bố thì không được tách thửa. Trường hợp thửa đất thuộc khu vực không phù hợp quy hoạch để sản xuất nông nghiệp và không thuộc khu vực phải thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì được tách thửa.

Được xem xét giải quyết theo Quyết định 60

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 1-1-2018. Theo đó, những trường hợp đã tiếp nhận hồ sơ hợp lệ về tách thửa đất theo quy định nhưng đến ngày quyết định này có hiệu lực thi hành mà chưa giải quyết tách thửa thì căn cứ theo Quyết định 33. Trong trường hợp người sử dụng đất muốn thực hiện tách thửa theo Quyết định 60 cũng sẽ được xem xét, giải quyết.

(Theo Pháp luật TP.HCM)

18 thay đổi về đất đai cần biết trước khi bước sang năm 2018 (Phần 2)

Tiếp nối Phần 1, bài viết sẽ đề cập tiếp những điểm thay đổi đáng chú ý về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước tại Nghị định 123/2017/NĐ-CP được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Nghị định 46/2014/NĐ-CP.

Theo đó, những điểm cần lưu ý bao gồm như sau:

  1.  Một số quy định về đơn giá thuê đất đã được sửa đổi, bổ sung;
  2. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về khung giá thuê mặt nước. Theo đó quy định về tiền thuê mặt biển được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 123/2017/NĐ-CP.
  3. Việc xác định tiền thuê đất, thuê mặt nước được sửa đổi, bổ sung như sau:

– Đối với trường hợp đất thuộc đối tượng được Nhà nước cho thuê đất theo quy định của pháp luật đất đai đang sử dụng nhà, đất tại công trình xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp thuộc sở hữu nhà nước hoặc có phần diện tích thuộc quyền quản lý của Nhà nước mà không tách riêng được phần diện tích đất sử dụng cho từng đối tượng đang sử dụng thì số tiền thuê đất mà đối tượng thuê đất phải nộp được xác định theo hệ số phân bổ trên cơ sở diện tích sàn sử dụng.

– Trường hợp chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính về nộp tiền thuê đất nếu người sử dụng đất đề nghị điều chỉnh quy hoạch chi tiết làm phát sinh nghĩa vụ tài chính đất đai (nếu có) thì người sử dụng đất phải:

  • Nộp đủ số tiền thuê đất xác định theo quy hoạch xây dựng chi tiết trước khi được điều chỉnh cộng với tiền chậm nộp tương ứng theo quy định;
  • Nộp bổ sung tiền thuê đất được xác định bằng chênh lệch giữa tiền thuê đất phải nộp theo quy hoạch trước khi điều chỉnh và theo quy hoạch sau khi điều chỉnh được xác định tại cùng một thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép điều chỉnh quy hoạch (nếu có).

– Bổ sung thêm 03 trường hợp tại điểm 6a, 7a, 8a tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định 123/2017/NĐ-CP.

  1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về việc xử lý tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng:

– Bổ sung quy định về hồ sơ đề nghị khấu trừ tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng, theo đó hồ sơ bao gồm:

  • Phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt: 01 bản sao;
  • Chứng từ và bảng kê thanh toán tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng: 01 bản chính.

– Bổ sung thêm Khoản 3a vào Điều 13 về trường hợp Nhà nước thu hồi đất, thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng và cho thuê đất theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm theo quy định của pháp luật nhưng không cân đối được ngân sách nhà nước để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng.

  1. Bổ sung quy định nộp tiền thuê đất khi chuyển mục đích sử dụng đất.

Đối với trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì chu kỳ ổn định đơn giá thuê đất tính từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định gia hạn thời gian thuê đất.

Trường hợp thời điểm hết thời gian thuê đất trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định gia hạn thời gian thuê đất thì người sử dụng đất phải nộp tiền thuê đất hàng năm đối với khoảng thời gian này theo đơn giá xác định trên cơ sở giá đất tại Bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất, tỷ lệ phần trăm (%) tính đơn giá thuê đất do UBND cấp tỉnh ban hành.

  1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về nguyên tắc thực hiện miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước.
  2. Trình tự, thủ tục miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước được sửa đổi.
  3. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về việc thu, nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước.

Theo đó, trường hợp thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất, thuê mặt nước phải nộp của năm đầu tiên từ ngày 3/10 đến hết ngày 31/12 của năm thì cơ quan thuế ra thông báo nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước cho thời gian còn lại của năm và thời hạn nộp tiền của năm đầu tiên là 30 ngày kể từ ngày ký Thông báo.

Quá thời hạn nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước của mỗi kỳ nộp tiền ghi trên Thông báo của cơ quan thuế, người thuê đất, thuê mặt nước phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền chưa nộp theo mức quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước trước ngày 15/7/2014, thuộc đối tượng nộp truy thu tiền thuê đất, thuê mặt nước cho thời gian đã sử dụng đất:

  • Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký Thông báo truy thu tiền thuê đất, thuê mặt nước của cơ quan thuế, người thuê đất phải nộp 50% tiền thuê đất theo Thông báo;
  • Trong thời hạn 60 ngày tiếp theo, người thuê đất phải nộp 50% tiền thuê đất, thuê mặt nước còn lại theo Thông báo truy thu;
  • Quá thời hạn quy như trên, người được Nhà nước cho thuê đất chưa nộp đủ tiền thuê đất theo Thông báo truy thu của cơ quan thuế thì phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền chưa nộp theo mức quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Nghị định 123/2017/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018.

18 thay đổi về đất đai cần biết trước khi bước sang năm 2018 (Phần 1)

Nghị định 123/2017/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 14/11/2017 nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định 45/2014/NĐ-CP và Nghị định 46/2014/NĐ-CP. 

Theo đó, những quy định được sửa đổi, bổ sung cần phải lưu ý tại Nghị định 123/2017/NĐ-CP bao gồm như sau:

  1. Bổ sung quy định về giá đất để tính tiền sử dụng đất:
  • Hệ số điều chỉnh giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành ngày 01/01 hàng năm. Thời điểm khảo sát để xây dựng hệ số điều chỉnh giá đất được thực hiện từ ngày 01/10 hàng năm.
  • Các chi phí liên quan đến việc xây dựng hệ số điều chỉnh giá đất (bao gồm cả chi phí thuê tổ chức tư vấn trong trường hợp cần thiết) được chi từ ngân sách theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
  • Việc lựa chọn tổ chức tư vấn khảo sát, xây dựng hệ số điều chỉnh giá đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu.
  • Nếu tại thời điểm xác định tiền sử dụng đất mà UBND cấp tỉnh chưa ban hành hệ số điều chỉnh giá đất thì áp dụng  hệ số của năm trước đó để xác định tiền sử dụng đất phải nộp, UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm về thất thu ngân sách do chậm ban hành hệ số mới (nếu có)
  1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về việc thu tiền sử dụng đất khi nhà nước giao đất
  • Đơn giá thuê đất để xác định số tiền thuê đất theo quy định được xác định dựa trên cơ sở bảng giá đất theo mục đích sử dụng đất của dự án.
  • Hệ số điều chỉnh giá đất tính thu tiền sử dụng đất, tỷ lệ phần trăm tính đơn giá thuê đất theo mục đích sử dụng đất thương mại, dịch vụ do UBND cấp tỉnh ban hành.
  • Quy định cụ thể trình tự, thủ tục xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất. (Đợi thằng Thịnh viết bài này xong gắn link vô đây)
  1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về việc thu tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất

– Tiền sử dụng đất từ việc chuyển mục đích sử dụng từ đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (không phải là đất ở) có nguồn gốc nhận chuyển nhượng đất ở của hộ gia đình, cá nhân sang đất ở để thực hiện dự án đầu tư từ ngày 01/7/2017 trở về sau được xác định như sau:

Tiền sử dụng đất = Mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo quy hoạch xây dựng chi tiết của dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trừ Tiền sử dụng đất tính theo quy hoạch xây dựng chi tiết xây dựng nhà ở của hộ gia đình, cá nhân tại thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Nếu hộ gia đình, cá nhân chuyển mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (không phải là đất ở) có nguồn gốc là đất ở sang đất ở của hộ gia đình, cá nhân thì không phải nộp tiền sử dụng đất.

– Tiền sử dụng đất đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (không phải là đất ở) có thời hạn sử dụng ổn định lâu dài có nguồn gốc được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trước ngày 07/7/2004 sang đất ở để thực hiện dự án đầu tư từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 trở về sau được xác định như sau:

Tiền sử dụng đất = Mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở trừ Tiền sử dụng đất tính theo giá đất tính thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê của đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (thương mại, dịch vụ) thời hạn 70 năm tại thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

 

 

  1. Sửa đổi quy định về tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất (cấp Giấy chứng nhận) cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất ở có nguồn gốc được giao không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm pháp luật đất đai kể từ 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 mà nay được Nhà nước xét cấp Giấy chứng nhận

Theo đó, trường hợp có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất theo quy định thì được trừ số tiền đã nộp vào tiền sử dụng đất phải nộp; mức trừ không vượt quá số tiền sử dụng đất phải nộp.

  1. Bổ sung thêm nguyên tắc thực hiện miễn giảm, tiền sử dụng đất đối với tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp có thu tiền sử dụng đất đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định cho phép miễn, giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai trước ngày 01/7/2014 khi chuyển nhượng dự án hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ngày 01/7/2014.
  2. Bổ sung thêm quy định về trình tự, thủ tục miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với dự án nhà ở xã hội, dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa.
  3. Sửa đổi quy định về việc xác định, thu nộp tiền sử dụng đất trong trường hợp căn cứ tính tiền sử dụng đất có thay đổi.

Theo đó cơ quan thuế phải xác định lại tiền sử dụng đất phải nộp, thông báo cho người có nghĩa vụ thực hiện.

Bổ sung thêm trường hợp chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất nếu người sử dụng đất đề nghị điều chỉnh quy hoạch chi tiết làm phát sinh nghĩa vụ tài chính đất đai (nếu có) thì người sử dụng đất phải:

  • Nộp đủ số tiền sử dụng đất xác định theo quy hoạch xây dựng chi tiết trước khi được điều chỉnh cộng với tiền chậm nộp tương ứng theo quy định của pháp luật;
  • Nộp bổ sung số tiền sử dụng đất bằng chênh lệch giữa tiền sử dụng đất phải nộp theo quy hoạch trước khi điều chỉnh và theo quy hoạch sau khi điều chỉnh được xác định tại cùng một thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép điều chỉnh quy hoạch (nếu có).
  1. Bổ sung quy định về trình tự, thủ tục hoàn trả hoặc khấu trừ tiền sử dụng đất đã nộp hoặc tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã trả vào nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội.
  2. Bổ sung quy định về trình tự, thủ tục xác định tiền sử dụng đất phải nộp khi người được mua, thuê mua nhà ở xã hội thực hiện bán, chuyển nhượng.
  3. Sửa đổi một số quy định về xử lý số tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng.
  • Bổ sung quy định về hồ sơ đề nghị khấu trừ tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng, theo đó hồ sơ gồm:
    • Phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt: 01 bản sao;
    • Chứng từ và bảng kê thanh toán tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng: 01 bản chính.
  • Trường hợp dự án đầu tư được Nhà nước giao đất không thông qua hình thức đấu giá có hình thức sử dụng đất hỗn hợp: Giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất và nhà đầu tư tự nguyện ứng trước tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng theo phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì việc khấu trừ tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng được tính theo từng loại diện tích và được phân bổ đều tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng của phần diện tích đất sử dụng vào mục đích công cộng vào các phần diện tích đất tương ứng.

Nghị định 123/2017/NĐ-CP còn sửa đổi, bổ sung một số vấn đề khác của Nghị định 46/2014/NĐ-CP, xem tiếp tại PHẦN 2

nguồn: thukyluat.vn

QUY ĐỊNH MỚI CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO LÃNH NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI

Theo Thông tư số 13/2017/TT-NHNN ban hành ngày 29/9/2017 và có hiệu lực từ 15/11/2017 ,các ngân hàng thương mại phải phát hành cam kết bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai cho từng bên mua trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng mua nhà.

Theo đó ngân hàng thương mại (NHTM) cam kết với bên mua, bên thuê mua (gọi là bên mua) về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho chủ đầu tư khi đến thời hạn giao, nhận nhà đã cam kết nhưng chủ đầu tư không bàn giao nhà cho bên mua mà không hoàn lại hoặc hoàn lại không đầy đủ số tiền đã nhận ứng trước và các khoản tiền khác theo hợp đồng (HĐ) mua, thuê mua nhà đã ký kết cho bên mua. Chủ đầu tư phải nhận nợ và hoàn trả cho NHTM.

Xem tiếp “QUY ĐỊNH MỚI CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO LÃNH NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI”